GS Trương Đình Dụ: Cống hiến hết mình cho khoa học

Góc Kiều bào Gương mặt việt

Thứ 4, 08/01/2014 15h41

NETVIET - Giáo sư Trương Đình Dụ là một trong những giáo sư đầu ngành về Khoa học Thủy lợi Việt Nam. Hơn 50 năm cống hiến cho nền khoa học nước nhà, ông đã được trao tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học thủy lợi. Ông chính là người đã mang lại niềm vinh quang cho ngành Thủy lợi Việt Nam.

 

 

GS Trương Đình Dụ (bên trái)

 

PV: Xin chào giáo sư Trương Đình Dụ. Cảm ơn ông đã nhận lời tham gia chương trình đầu tiên của năm mới của chúng tôi. Nhân dịp năm mới, xin kính chúc ông sức khỏe, nhiều niềm vui và hạnh phúc.

 

GS Trương Đình Dụ (GS): Chúc VTC10-NETVIET và quý vị khán giả một năm mới sức khỏe dồi dào và thành công.

 

PV: Xin cảm ơn những lời chúc của giáo sư. Ngoài 70 tuổi, ông vẫn đi xe máy đến Viện Thủy công để làm việc với tư cách là một chuyên gia cố vấn. Động lực nào để ông đi làm như vậy?

 

GS: Tôi nghĩ rằng không phải riêng tôi mà rất nhiều nhà khoa học khác mặc dù ngoài 70 tuổi rồi nhưng vẫn rất tâm huyết với công việc. Đến đây cũng không phải vì tiền hay vì một cái gì khác mà vì tâm huyết và say sưa với công việc, với hướng đi của mình nên đến làm việc một cách tự nguyện và thích thú.

 

PV: Ông thấy rằng con đường khoa học mà ông đã chọn có nhiều chông gai không? Chông gai lớn nhất theo ông đó là gì?

 

GS: Nghề gì cũng có chông gai. Chông gai lớn nhất của những người nghiên cứu khoa học ứng dụng, khác với chông gai những người nghiên cứu lý thuyết. Nghiên cứu lý thuyết có thể đăng được một bài báo là thành công còn nghiên cứu ứng dụng thì phải được ứng dụng vào thực tế, đưa lại hiệu quả cho xã hội và đất nước. Nghiên cứu đã khó, ứng dụng được còn khó hơn.

 

PV: Ông có thể kể thêm những khó khăn của thời kỳ mà ông học ở Đại học Bách Khoa Hà Nội cũng như thời kỳ mà ông đi du học tại nước ngoài?

 

GS: Cuộc đời sinh viên của tôi khi ấy rất nghèo. Nghèo đến mức khi về hè tôi không có áo sơ mi để mặc, phải mặc một vỏ áo bông. Khi tôi về đến xã thì cô bí thư Đoàn xã hỏi: “Sao mùa này mà anh mặc vỏ áo bông vậy”? Tôi phải trả lời: “Mấy hôm nay tớ bị sốt rét”. Thực ra lúc đó tôi không hề có một chiếc áo để mặc.

 

Khi tôi đi nghiên cứu sinh ở Liên Xô, tôi vẫn nhớ mãi thầy Nguyễn Văn Quỳ dạy tôi ở trường ĐH Bách Khoa. Khi đó thầy làm Vụ trưởng Vụ tổ chức ở Bộ Đại học, trước lúc đi tôi có đến hỏi thầy: “Thầy đi làm phó Tiến sĩ ở Liên Xô về có kinh nghiệm gì để giúp cho em được không”? Vào đứng ở hành lang, thầy nói với tôi: “Bây giờ chỉ có thế này thôi: Cày, cày và cày! Cậu ghi vào sổ đi”. Vì tôi khi ấy kiến thức cơ bản rơi rụng hết, ngoại ngữ thì mới bắt đầu đi học tiếng Nga. Tôi đã thực hiện theo lời thầy dạy: Cày, cày và cày, sang Nga tôi chỉ tập trung cày. Cày như thế mới ra được đề tài, cày như thế mới ra được nội dung phong phú của đề tài để bảo vệ được, trong khi nhiều bạn của tôi ở trường Đại học cũng đi nhưng không bảo vệ được. Chính phương châm: Cày, cày và cày tôi cũng nói với các con và các cộng sự của tôi là không có gì bằng cần cù bù thông minh.

Khi tiễn tôi ra học đại học gần quãng đường 5 km, bố chỉ dặn hai câu đại ý, ở đời những người học hành thành đạt chỉ có 2 khuyết điểm khiến họ bị thất bại không phát triển được là tiền và sắc, con phải giữ được 2 điều ấy. Tôi nhớ mãi bởi vì ông là nông dân cũng không dặn dò gì được ngoài những điều đó, ông chỉ sợ tôi đi học rồi hư hỏng.

 

PV: Hiếm có một nhà khoa học thủy lợi nào có nhiều bằng sáng chế về thủy lợi như giáo sư Trương Đình Dụ. Thưa giáo sư, để có được những bằng sáng chế đó thì phải mất rất nhiều thời gian, công sức thậm chí là mồ hôi và nước mắt, như chúng ta đã nói ở đầu chương trình là rất nhiều chông gai đúng không ạ?

 

GS: Bằng sáng chế đầu tiên của tôi là Cửa van tự động cống vùng triều. Để có bằng sáng chế, năm 1977 sau giải phóng, chúng tôi đã vào lăn lội tại vùng Đồng bằng Sông Cửu Long. Ở đó người ta xây dựng cống nhưng không quản lý được vì vùng đó là vùng bán nhật triều, một ngày nước lên xuống hai lần, người ra đóng cống không kịp. Đi thực tế nhiều lần thấy đây là vấn đề rất bức xúc, tôi về kiến nghị đề tài nghiên cứu Cửa van tự động cống vùng triều vào những năm 1981 đến 1985, trong chương trình nghiên cứu cấp nhà nước. Nghiên cứu ra được nhiều loại cửa trong đó có một kiểu cửa van cánh thủy lực, khi nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thấy thành công, lý thuyết tính toán xong rồi nhưng giờ ứng dụng ra thực tế như thế nào thì không phải dễ dàng.

 

Đến năm 2000, loại cửa van ấy được ứng dụng gần 100% ở Đồng bằng Sông Cửu Long và một số cống ở vùng ven biển miền Bắc. Đến bây giờ trình độ tự động tiến lên nhằm vào những cống lớn và tự động tiến đến điện tử thế nhưng những cống nhỏ, cống vừa thì không thể trải khắp như thế được nên loại cửa van mà chúng tôi nghiên cứu vấn đóng góp một phần rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội ở Đồng bằng Sông Cửu Long.

 

PV: Trong những sáng chế được nhiều người biết đến của ông và có tính ứng dụng thực tế cao đó là sáng chế về Đập trụ đỡ và Đập xà lan. Ông có thế nói gì về những sáng chế này ?

 

GS: Vào những năm 1990, nhà nước có chương trình nghiên cứu, cân bằng và sử dụng hợp lý nguồn nước Quốc gia, khi nghiên cứu chương trình này thì tôi thấy có một vấn đề đất nước ta sau này sẽ rất thiếu nước. Tôi đã nghĩ hướng đi là ngăn các cửa sông lại. Tất nhiên việc ngăn các cửa sông hiện nay trên thế giới còn phản đối, ngăn các sông lớn như sông Cửu Long còn nhiều vấn đề phải bàn nhưng tôi nghĩ rằng nếu sau này con cháu chúng ta không thực hiện những công trình ấy thì sau này chúng ta không đủ nước để dùng. Tôi đã nghiên cứu công trình xây dựng ngay ở trong lòng sông. Trước đó tôi đặt câu hỏi, tại sao người ta xây cầu được trên sông và cống mình lại không xây được? Sau đó sinh ra đề tài Đập trụ đỡ, yêu cầu phải xây dựng công trình trong lòng sông và là phải mở tiết diện của cống bằng sông. Từ hai nguyên tắc ấy mà tìm ra giải pháp kỹ thuật để làm được cống ngay trong lòng sông. Bên cạnh Đập trụ đỡ, chúng tôi nghĩ đã làm một cái cống có hình trụ rồi thì phải làm một cái Đập mà mình chế tạo ở nơi khác để mình đưa đến đánh đắm rồi hạ xuống, chúng tôi gọi cái đập đó là Đập xà lan. 

Chúng tôi làm Đập xà lan năm 1992, đi đâu chào mời cũng không nơi nào ứng dụng. Khi có nơi chịu ứng dụng, lúc đầu chúng tôi định làm bằng thép chỉ trong một tháng là xong Đập nhưng làm thép sẽ nhanh bị han gỉ nên phải làm Đập bằng bê tông. Làm xong rồi, nhiều đoàn ở Đồng bằng Sông Cửu Long đến tham quan và sau đó thì ra đời hàng loạt.

 

PV: Thưa giáo sư Trương Đình Dụ, giải thưởng Hồ Chí Minh là giải thưởng danh giá nhất dành cho những ai thực sự cống hiến hết mình với nghề trong tất cả mọi lĩnh vực. Không phải ai cũng có vinh dự được đứng trên bục vinh quang để nhận giải thưởng này. Cảm xúc của ông như thế nào khi được xướng tên nhận giải thưởng này?

 

GS: Tôi thấy rất vinh dự vì mình đã tâm huyết với công việc, làm ra được những sản phẩm phục vụ cho xã hội và đất nước, bây giờ được nhà nước vinh danh nên tôi rất vui mừng. Giải thưởng Hồ Chí Minh khó ở chỗ, thứ nhất là tính khoa học phải đặc biệt xuất sắc. Thứ hai là, công nghệ này đóng góp cho nền kinh tế quốc dân, hiệu quả đưa lại của Đập trụ đỡ và Đập xà lan đạt hiệu quả về môi trường và giảm giá thành xây dựng, giảm thời gian xây dựng 

 

PV: Vậy theo ông sự đóng góp của cụm công trình khoa học này cho đất nước đó là gì?

 

GS: Đóng góp ở đây là đưa ra một nguyên lý mới xây dựng cống. Từ nguyên lý mới ấy mở ra một công nghệ xây dựng mới, ý nghĩa khoa học ở chỗ là hoàn toàn mới.

 

 

Công trình cống đập Thảo Long (Thừa Thiên - Huế) - Ảnh: Viện Thủy công

 

PV: Vượt qua được những khó khăn như vậy chẳng thế mà có người đã từng nói rằng, ông là một trong những người đầu tiên tạo ra được một trường phái xây dựng công trình ngăn sông kiểu mới là Đập trụ đỡ và Đập xà lan.

 

GS: Hiện nay công nghệ ngăn sông kiểu mới ở thế giới cũng có nhiều, như ở Hà Lan thì công nghệ dùng nguyên lý ma sát còn nguyên lý làm Đập trụ đỡ của chúng tôi là dùng cọc, mà cọc hiện nay thì rất hiện đại rồi, cắm vào nền đất chịu lực, nền đất cứng xuyên qua lớp bùn yếu, như thế chúng tôi gọi là nguyên lý ngàm. Dùng nguyên lý ngàm để ổn định đập, còn nguyên lý truyền thống là dùng nguyên lý ma sát hay còn gọi là nguyên lý trọng lượng. Trọng lượng sinh ra ma sát để chống lực ngang. Còn chúng tôi dùng nguyên lý ngàm để chống lực ngang. Hai nguyên lý khác nhau ở chỗ đó. Ở Đức có một cái cống xây dựng xong năm 2002 rất to, họ cũng làm theo nguyên lý ngàm.

 

PV: Đối với những kỹ sư trẻ tương lai, ông có lời khuyên gì dành cho họ khi mà lựa chọn con đường làm khoa học?

 

GS: Tôi thấy đầu tiên là phải chọn được cho mình một hướng đi. Có thể hướng đi ngắn hạn cũng như dài hạn hoặc hướng đi cả cuộc đời, đặt được hướng đi thì tùy vào thời điểm mà điều chỉnh nó. Như tôi làm cửa van tự động chỉ một thời gian nhưng hướng đi làm cống là vĩnh viễn. Cống theo suốt cuộc đời tôi.

Khi chọn được hướng đi rồi thì phải có một quyết tâm rất cao, gạt ra những hấp dẫn khác để tập trung cho mục tiêu này. Và một yếu tố rất quan trọng nữa, khi mình làm việc phải có một tập thể rất dân chủ trong khoa học và rất trung thực.

 

PV: Xin cảm ơn những lời khuyên của giáo sư Trương Đình Dụ và đặc biệt cảm ơn những câu chuyện về cuộc đời làm khoa học của ông trong chương trình đầu năm mới 2014 này. Một lần nữa, cũng nhân dịp năm mới chúng tôi kính chúc ông sức khỏe, có nhiều may mắn và tiếp tục dìu dắt những thế hệ kỹ sư tương lai để cùng với ông sáng chế ra nhiều phát minh mới, những công trình mới có tính ứng dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao cho xã hội, góp phần vào sự phát triển của đất nước.

 

GS: Chúc chương trình năm 2014 phát triển mạnh mẽ, đưa những thông tin khoa học công nghệ có ích cho xã hội.

 

Hải Lý