Lễ cúng ma khô của người Nùng

Văn Hóa Việt Văn Hóa Truyền thống

Thứ 3, 14/01/2014 13h56

NETVIET - Không chỉ có cảnh sắc thiên nhiên đẹp như một bức tranh tuyệt mỹ, huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang còn ẩn chứa trong mình một kho tàng văn hóa đặc sắc của các dân tộc thiểu số sinh sống tại nơi đây. Bao đời nay, người Nùng luôn là một cộng đồng dân tộc có tinh thần đoàn kết cao, có nét văn hóa đậm đà bản sắc được thể hiện qua những lễ hội nông nghiệp và những phong tục cưới hỏi, tang ma truyền thống. Một trong những nghi  lễ rất đặc sắc của đồng bào Nùng nơi đây phải kể đến lễ cúng ma khô.

 

Gọi hồn người mất

 

Theo phong tục của người Nùng, lễ ma khô là tục lệ tiễn linh hồn người chết về quê cha đất tổ, được tiến hành sau khi người chết đã được đưa đi chôn cất. Sau đó một thời gian, gia đình sẽ chọn ngày lành tháng tốt mới tiến hành làm ma khô. Có thể một vài ngày sau khi mất hoặc có thể là một vài năm sau, phụ thuộc vào việc gia đình có điều kiện và ngày đẹp, tránh những ngày xung khắc với bản mệnh của con cháu trong gia đình. Có gia đình kỹ hơn thì còn tránh ngày xung khắc với bản mệnh của chủ tế tức là thầy cúng. Lễ ma khô thường tổ chức vào dịp cuối năm, lúc nông nhàn, khi có điều kiện về vật chất cũng như thời gian.

 

Lễ ma khô có khá nhiều thủ tục, đầu tiên gia đình sẽ làm lễ gọi hồn người mất. Đây được coi là một thủ tục quan trọng nhất trong ngày làm ma cho người đã khuất. Không chỉ có con cháu anh em trong dòng tộc mà còn có tất cả người quen thân ở nơi xa, bà con trong cả bản đến dự lễ cầu gọi hồn cho người chết. Người Nùng quan niệm, sau khi có một người qua đời thì hồn vía sẽ do 2 anh em nhà trời bắt làm nô lệ. Khi gọi hồn về, người nhà sẽ làm một cây phướn, trên đó có hình người, hình con vật và cắm thật cao để hồn người chết đi từ xa có thể nhìn thấy và biết là gia đình của họ và biết đường về nhà.

 

Vì vậy, con cháu, anh em của người đã khuất phải đem đầy đủ các lễ vật đến xin hai thần trời. Đồ lễ là được đặt trên một chiếc lều có hai tầng. Tầng trên là mâm cúng thần Trời anh, tầng dưới là mâm cúng thần Trời em. Trong hai mâm đều bày rượu thịt và các lễ vật khác. Ngoài ra còn có những mâm lễ khác để cúng thần đất, cúng vong linh chúng sinh và cúng cho quân lính của hai ông thần trời,…Từ hai mâm cúng Thần có một miếng vải trắng thả xuống làm thang trải dài và được quây lại thành cái nhà nhỏ có cổng để đón hồn về.

 

Trong lễ cúng gọi hồn, thầy cúng là người đóng vai trò quan trọng nhất. Thầy cúng sẽ đọc tên, ngày giờ người mất và cúng mời các vị Thần về nhận lễ. Nay con cháu, anh em trong dòng họ mang lễ vật đến xin hai Thần thả hồn cho người đã khuất trở về với tổ tiên dòng họ. 

 

Sau đó, thầy cúng gọi tên người đã khuất và cầm chuông đeo kiếm đi đầu, mở đường xua đuổi kẻ ác, ma tà. Con cháu, họ hàng vừa khóc, vừa đi theo thầy cúng để đón đường đưa hồn người khuất trở về. Trên tay mỗi người đều cầm một tờ giấy bản có xâu một bông lúa với ý nghĩa chỉ đường cho hồn biết để tìm về tới sân nhà mình.

 

 Khi cúng xong, thầy cúng lấy xương hai đùi gà để xem, nếu có bốn lỗ tròn đều, to đẹp đều nhau thì hồn đã về đến sân nhà. Nếu chưa được như vậy, thầy cúng lại dẫn đầu con cháu trong gia đình làm lễ gọi hồn lại một lần nữa.

 

Cho đến khi đã gọi được hồn người mất, con cháu sẽ đóng cổng lại cho hồn được bình an không cho hồn khác hay ma tà xâm nhập vào. Lúc này, thầy cúng lại tiếp tục cùng con cháu đưa hồn vào trong nhà, nơi người mất ra đi.

 

Hồn người đã khuất được con cháu và họ hàng khiêng trên một cái kiệu nhỏ làm bằng tre. Tấm vải trắng được con cháu mang trên đầu có vai trò tượng trưng như một chiếc cầu nối, dẫn đường cho hồn người mất.  Đi sau cùng là trống chiêng khua vang, xua đuổi ma tà tránh đường để cho hồn về với tổ tiên. Đồng thời cũng là thể hiện sự vui mừng hồn đã trở về với tổ tiên, về với con cháu anh em.

 

  

Ảnh: Internet

 

Bàn giao của cải cho người mất

 

Về đến nhà thầy cúng làm lễ cầu chúc cho hồn được sống an nhàn cùng với tổ tiên và  phù hộ cho con cháu làm ăn phát đạt may mắn, thương quý anh em bạn bè. Lễ gọi hồn đã thể hiện rất rõ tấm lòng và tình nghĩa của người còn sống với những người đã mất.

 

Sau khi đã gọi được hồn về, từ sáng sớm gia đình đã tiến hành lễ bàn giao của cải cho người đã mất. Đầu tiên là bàn giao một con trâu cái, một loài vật gắn bó mật thiết với đời sống nông nghiệp của con người. Người Nùng quan niệm rằng sau khi được hai anh em nhà trời thả ra, hồn người mất sẽ được tự do nhưng không có nhà để ở, không có tài sản để làm ăn, cuộc sống rất thiếu thốn. Bởi vậy, con cháu và người thân sẽ có những món quà tặng như nhà ở và gia súc, gia cầm để làm của cải cho người đã mất. Thay mặt cho gia đình, thầy cúng sẽ dặn dò người mất về đặc điểm của con trâu, để sau này con trâu đi lạc hay bị bắt trộm thì căn cứ vào đó mà đi tìm. Đồng thời động viên người mất phải chịu khó lao động, sản xuất để có một cuộc sống tốt đẹp.

 

Trong khi thầy cúng làm lễ, con cháu của người mất cũng không ngừng khóc thương. Đối với họ, trang bị của cải cho người mất cũng là đã làm tròn đạo hiếu của các con các cháu.

 

Con trâu sau khi làm xong lễ bàn giao cho người mất sẽ đem ra làm thịt để thiết đãi bà con, họ hàng đến dự lễ ma khô. Nhưng trong suốt ba ngày làm lễ, con cháu người mất phải tuyệt đối ăn chay. Bởi họ quan niệm đã bàn giao con trâu, con lợn cho bố làm của cải rồi thì sẽ không bao giờ ăn của người mất.

 

Cho đến khi trời sáng hẳn, bà con họ hàng và những người thân quen sẽ mang tiền vàng và lợn, gà đến tặng cho người mất. Những cây tiền được dán giấy màu sắc rực rỡ tượng trưng cho tiền bạc của cõi âm. Từ khắp các ngả đường quanh nhà, mọi người mang đồ lễ đến rất đông, cảnh tượng này không chỉ rất đẹp mắt mà còn thể hiện tình người rất sâu nặng.  Một phong tục đẹp mang đầy tính nhân văn đó là con cháu trong gia đình sẽ chờ để đón khách. Họ quỳ xuống và làm động tác cảm ơn bà con, họ hàng.

 

Các đồ lễ như lợn gà, xôi rượu sẽ mang vào trong nhà để bàn giao cho người mất. Còn những cây tiền thì được treo ở bên ngoài. Quan sát từ xa, có thể thấy rõ các dây tiền được treo từ cao đến thấp, từ lớn đến nhỏ. Qua đó người ta có thể nhận biết được tuổi của người đã mất. Tuổi càng cao, con cháu càng đông thì số lượng dây tiền càng nhiều, và ngược lại.

 

Ở trong nhà, thầy cúng tiếp tục làm lễ bàn giao tài sản cho người mất. Những người mang lễ vật đến sẽ được thầy cúng đọc tên tuổi, số lượng lợn, gà mang đến dâng cúng. Mỗi người đóng góp một ít, tạo nên số lượng tiền bạc, của cải phong phú cho người mất. Và người ta tin rằng, làm như thế, ở thế giới bên kia, người mất sẽ vô cùng hạnh phúc vì có đủ của cải, tiền bạc để xây dựng cuộc sống ấm no cho mình. 

 

Trong lễ cúng ma khô, một điệu múa tín ngưỡng không thể thiếu đó là múa ngựa để đưa tiễn hồn người chết về thế giới bên kia. Điệu múa ngựa có rất nhiều động tác. Hai người đàn ông làm những động tác mô phỏng việc vái lạy bốn phương trời, vái lạy cọc buộc trâu của người mất…và làm động tác của hai con ngựa giao tranh. Điệu múa ngựa không chỉ rất vui mắt mà con thể hiện những nghi lễ liên quan đến tín ngưỡng nông nghiệp. Họ tin rằng chết có nghĩa là sự chấm dứt của cuộc sống trần gian và bắt đầu một cuộc sống ở thế giới bên kia cũng phồn thịnh và no đủ thế này. Bởi vậy, họ phải chuẩn bị cho người đã khuất con ngựa là hành trang để đi lại.

 

Nghi lễ cuối cùng trong lễ ma khô đó là mang ngôi nhà và tất cả những vật dụng bằng giấy ra mộ để đốt cho người mất. Con cháu vẫn đội dải lụa trắng tượng trưng cho việc rước hồn người mất đi từ nhà ra mộ. Những cây tiền do họ hàng, người thân mang đến từ hôm trước cũng sẽ được mang ra mộ.

 

 

Ảnh: Internet

 

Khi ngọn lửa bùng lên thiêu cháy tất cả, con cháu trong gia đình đã hoàn toàn tin rằng nhà cửa và tiền bạc đã được chuyển đến người mất. Rất khó để chứng minh sự màu nhiệm này, nhưng chắc chắn rằng khi có niềm tin, con người sẽ thoải mái, an tâm và cảm thấy cuộc sống tốt đẹp hơn.

 

Có thể thấy rằng, lễ cúng ma khô của người Nùng không chỉ là một biểu hiện rất đặc trưng cho tín ngưỡng nông nghiệp mà còn cho thấy, từ trong đau khổ của sự chia lìa đã xuất hiện khát vọng về sự sinh sôi nảy nở, về một cuộc sống lao động sản xuất của người Nùng ở Hà Giang.

 

Vân Chi